Diệt chủng và những người hùng của lương tri

Chia sẻ Facebook
27/10/2022 16:07:52

Trong những cuộc diệt chủng đó, dù là một người lính, một y tá, một quản lý khách sạn hay thậm chí một kẻ cơ hội, thì họ đều có thể đứng...


Diệt chủng – Tại sao người dân của một đất nước lại có thể giết lẫn nhau? Tại sao con người lại có thể nhuốm máu hàng triệu con người khác? Tại sao người ta lại thờ ơ trước mạng sống của hàng triệu người ngay trên chính mảnh đất của mình, hoặc giả ngay bên cạnh biên giới của mình, ngay trong châu lục mà mình đang sống, hay ngay trên chính tinh cầu mà nhân loại cùng tồn tại?

“Tâm lý gì đằng sau sự thờ ơ trước những cuộc diệt chủng?”


Trong kỳ 2 , thông qua cuộc diệt chủng Rwanda chúng ta đã nói về sự thất hứa lớn nhất thế kỷ 20 của thế giới khi làm ngơ trước những cuộc diệt chủng cướp đi hàng triệu mạng sống. Tuy nhiên, không phải tâm thức của tất cả mọi người đều bị lu mờ trong sợ hãi hay thờ ơ. Vẫn còn đó những con người mà thế giới phải ngả mũ kính phục. Chúng ta sẽ kể về câu chuyện của họ, để cho thấy rằng dù là một người lính, một y tá, một quản lý khách sạn hay thậm chí là một kẻ cơ hội thì họ đều có thể đứng về phía chính nghĩa, đều có thể trở thành những người hùng của lương tri…


Tóm tắt bài viết :

Câu chuyện của một người lính Đức Irena Sendler và sự sống trong những chiếc lọ Vị quản lý khách sạn kỳ lạ ở Rwanda Câu chuyện của một kẻ cơ hội

Câu chuyện của một người lính Đức

Armin Theophil Wegner là một tác gia và cũng là một người lính Đức tham gia vào thế chiến thứ nhất. Mùa đông năm 1914, ông tham gia quân ngũ với vai trò một người lính cứu thương. Wegner có mặt tại Syria vào thời điểm cuộc diệt chủng Armenia diễn ra.

Embed from Getty Images


Những đứa trẻ Armenia bị thảm sát trong cuộc diệt chủng.

Thời đó, sau khi chiến bại trên dãy núi Kavkaz, đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ), đồng minh của Đức, đã tiến hành diệt chủng người Armenia để đổ lỗi cho họ về thất bại quân sự chống lại người Nga. Quân đội Ottoman đã thảm sát nam giới Armenia trên diện rộng và đưa họ vào các trại lao động tập trung. Còn nữ giới, trẻ em và người già thì bị quân đội ép buộc đi thành những hàng người dài về phía sa mạc Syria. Ước tính 800.000 tới 1,5 triệu người Armenia đã chết trong cuộc diệt chủng này.

Wegner. (Ảnh: Wikipedia, Public Domain)

Wegner đã chứng kiến những hàng dài người Armenia bị áp giải tới sa mạc Syria trong cao điểm của cuộc diệt chủng. Biết rằng sức mình không thể giúp được những con người đáng thương đó giữa sa mạc, Wegner đã cố gắng thu thập lại thông tin về cuộc diệt chủng, chụp hàng trăm bức ảnh, cất giữ những lá thư… trong trại lưu đày Deir ez-Zor. Việc làm của Wegner đi ngược lại với quân lệnh. Chính phủ Ottoman yêu cầu quân Đức bắt và đưa Wegner về nước. Mặc dù quân đội đã cố gắng hủy đi những tài liệu mà Wegner thu thập được, ông cũng thành công mang khỏi Syria rất nhiều hình ảnh về cuộc diệt chủng Armenia trong thắt lưng của mình.


Lương tri đã kêu gọi tôi làm chứng.
Tôi là tiếng nói của những con người đang gào thét giữa sa mạc.

Sau này, Wegner tiếp tục lên tiếng cho người Armenia, phản đối cuộc diệt chủng của đế quốc Ottoman và đã góp phần tạo nên một đất nước Armenia độc lập.

Những người Armenia bị đày tới sa mạc. (Ảnh: Wikipedia, Public Domain)


Năm 1933, Wegner tiếp tục lên tiếng phản đối việc Đức Quốc xã bức hại người Do Thái thông qua một lá thư mở gửi tới Adolf Hitler. Một thời gian ngắn sau đó, Wegner bị tổ chức Gestapo bắt giữ, bị tra tấn, và bị gửi qua các trại tập trung của Phát xít như Oranienburg, Börgermoor hay Lichtenburg. Khi được thả, Wegner chạy trốn tới Rome, Ý, nơi ông lấy tên là Percy Eckstein. Năm 1939, Wegner và vợ ông đồng ý ly thân, ông từng nói, “Nước Đức đã lấy đi của tôi mọi thứ… kể cả vợ tôi.”


“tác gia duy nhất dưới thời Đức Quốc xã từng dám lên tiếng chống lại cuộc bức hại người Do Thái” , nhưng cho tới khi qua đời tại Rome vào năm 1978, ông gần như bị người Đức quên lãng. Trên mộ ông có ghi dòng chữ:


Amavi iustitiam odi iniquitatem
Propterea morior in exsilio

Có nghĩa là:


Tôi yêu mến công lý và ghét tội ác
Vậy nên tôi đã chết trong cảnh tha hương

Irena Sendler và sự sống trong những chiếc lọ

Irena Sendler là một phụ nữ làm công tác xã hội dưới thời Đức Quốc xã. Thời bấy giờ, khi các đại học Ba Lan phân biệt đối xử với người Do Thái và bắt họ ngồi vào hàng ghế riêng, Irena đã lựa chọn ngồi chung với họ dù bà không phải là người Do Thái. Bà đã cứu sống rất nhiều trẻ em và người lớn tuổi sau khi Phát xít tấn công vào Ba Lan. Rồi mọi thứ trở nên tồi tệ hơn khi 400.000 người Do Thái bị cầm tù tại Warshaw…

Mặc dù Phát xít muốn người Do Thái phải chết, họ lại không muốn sốt phát ban bùng phát và lan ra ngoài. Chính vì thế, Phát xít cho phép các y tá vào chăm sóc người Do Thái. Biết được điều đó, Irena đã giả mạo thành một nữ y tá để vào được Warshaw. Bà nhanh chóng nói chuyện với những cha mẹ người Do Thái về viễn cảnh bị giết tại các trại tập trung, và thuyết phục họ để bà đưa những đứa trẻ ra ngoài. Irena sử dụng thuốc ngủ mình đánh cắp được để khiến lũ trẻ mê man, rồi cho chúng vào những bao tải hay hộp giấy để đưa ra ngoài.

Thông qua nhiều biện pháp, Irena cùng những người khác đã giúp lũ trẻ được nhận nuôi bởi các gia đình Ba Lan, hoặc giấu chúng trong các trại trẻ mồ côi. Để lưu giữ lại thông tin về từng đứa trẻ, Irena đã đưa giấy tờ vào trong những chiếc lọ, và chôn chúng trong vườn nhà với hy vọng rằng trong tương lai, bà sẽ để lũ trẻ biết được sự thật về cha mẹ mình.

Phát xít bắt được Irena và tra tấn bà một cách dã man nhưng bà chưa bao giờ tiết lộ về mạng lưới ngầm giải cứu trẻ em Do Thái. Irena bị phán tử hình, nhưng những người Ba Lan trong mạng lưới đã hối lộ một tay lính gác để giải cứu Irena. Bà sống ẩn mình trong một khoảng thời gian sau đó.

Tổng cộng, Irena đã giúp khoảng 2.500 đứa trẻ Do Thái thoát khỏi số phận bị giết trong những trại tập trung.

Sau chiến tranh, Irena tìm lại lũ trẻ và trao cho chúng những chiếc lọ. Nhưng hầu hết người thân của chúng đều đã chết…

Dưới thời Xô Viết, Irena cũng đặt mình vào ranh giới sống chết khi tiếp tục giúp đỡ những con người bị đàn áp. Tổng cộng Irena đã trải qua ba chế độ độc tài: Ba Lan thời tiền chiến; Ba Lan bị Phát xít chiếm đóng; và Ba Lan dưới thời Xô Viết. Bởi vì bà phản đối sự tàn bạo của cả chủ nghĩa Phát xít lẫn chủ nghĩa cộng sản dưới thời Xô Viết nên câu chuyện của bà bị chính quyền Ba Lan bấy giờ ém nhẹm.

Irena Sendler. (Ảnh: Mariusz Kubik, Wikipedia, CC BY 2.5)


Người ta chỉ biết đến bà qua những thông tin ngắn ngủi, một lần vào năm 1965 tại bảo tàng Diệt chủng Do Thái Yad Vashem, và một lần vào năm 1994, trong một bản tin ngắn trên truyền hình. Mãi cho đến năm 1999, cái tên Irena Sendler mới bắt đầu được chú ý… Năm 2009, bộ phim “The Courageous Heart of Irena Sendler” (Tạm dịch: Trái tim dũng cảm của Irena Sendler) được công chiếu, giúp Irena Sendler trở về với vị trí xứng đáng trong lịch sử nhân loại: Một người hùng của lương tri.

Vị quản lý khách sạn kỳ lạ ở Rwanda


Vào ngày 6 tháng 4 năm 1994, một cuộc khủng bố 100 ngày nổ ra ở Rwanda, mang đến thảm họa cho đất nước vốn đang bị chia cắt bởi hai dân tộc Hutu và Tutsi ( Xem thêm kỳ trước ). Trong khi cuộc thảm sát người Tutsi diễn ra ngay tại các giáo đường, các điểm dừng giao thông, chợ, tại các gia đình, cùng với những lời chửi mắng nguyền rủa, đánh đập hoặc hãm hiếp, thì có một khách sạn yên tĩnh đến kỳ lạ: Hôtel des Mille Collines. Và người quản lý khách sạn trong thời gian khủng bố kinh hoàng đó chính là Paul Rusesabagina.

Embed from Getty Images


Paul Rusesabagina

Paul Rusesabagina là một người mang trong mình cả hai giòng dõi, mẹ là người Tutsi và cha là người Hutu. Tất nhiên, gia đình với 9 người con của Paul không phải là trường hợp duy nhất minh chứng rằng hai dân tộc hoàn toàn có thể hòa hợp. Vậy nhưng Paul đã lớn lên và chứng kiến sự xung đột ngày càng gia tăng tại Rwanda. Ông cưới vợ, theo học ngành quản lý khách sạn, ly thân, một mình nuôi 3 con. Và vào năm 1987, gặp được người vợ thứ hai của mình – Tatiana – tại Ruhengeri, Rwanda. Ông đã hối lộ và giúp Tatiana có được một công việc tại Bệnh viện Trung tâm Kigali. Họ kết hôn hai năm sau đó. Paul trở thành quản lý khách sạn Diplomates và Hôtel des Mille Collines.


Khi cuộc diệt chủng kinh hoàng diễn ra, những tay súng người Hutu đã đưa Paul, gia đình của ông và những người Tutsi khác lên một chiếc xe buýt. Họ dúi vào tay Paul một khẩu súng và yêu cầu ông bắn tất cả “những con gián” ở trên xe. Nhưng việc giết người, dù là để bảo vệ mạng sống của chính mình, không phải là điều mà lương tri của Paul lựa chọn. Ông muốn cứu tất cả mọi người trên chiếc xe buýt. Vậy là Paul đã hứa sẽ đút tiền cho những tay súng trên xe, để chúng đưa ông về khách sạn Diplomate. Tại đây ông lấy tiền để trả cho những tay súng, rồi lái xe đưa tất cả mọi người về Hôtel des Mille Collines.


Đó chỉ là ngày đầu tiên trong chuỗi ngày Paul thu gom và bảo vệ hơn 1200 người trốn chạy khỏi cuộc diệt chủng trong khách sạn mà ông làm việc, cung cấp cho họ thức ăn và nước uống, liên tục gọi ra quốc tế tìm kiếm sự trợ giúp. Hàng ngày, Paul sử dụng khả năng ngoại giao và “hối lộ” của mình để thuyết phục những tay súng không tiến vào Hôtel des Mille Collines.

Embed from Getty Images


Không từ ngữ nào có thể miêu tả thảm cảnh đang
diễn ra bên ngoài Hôtel des Mille Collines.

Paul kể lại rằng những tay súng khát máu sẽ tìm cách hành hạ nạn nhân nhiều nhất có thể. Chúng cắt một bộ phận trên người nạn nhân, rồi một vài giờ sau quay lại cắt tiếp một bộ phận khác, luân phiên như thế cho đến khi nạn nhân chết hẳn.

Cuộc diệt chủng Rwanda đã để lại hàng triệu sinh mạng trên đường phố, nhưng trong suốt gần 100 ngày bi thương đó, không có một ai bị giết tại Hôtel des Mille Collines.

Sinh ra không phải để trở thành một nhà nhân đạo, Paul Rusesabagina đã vô tình trở thành một người hùng như vậy đấy…

Câu chuyện của một kẻ cơ hội

Oskar Schindler, đó có lẽ là một cái tên quá quen thuộc đối với những người tìm hiểu về cuộc diệt chủng Do Thái. Với bộ phim “Schindler’s List” (Danh sách của Schindler), Oskar Schindler đã trở thành một nhà công nghiệp nổi tiếng vì cứu thoát khoảng 1.200 người Do Thái khỏi bàn tay diệt chủng của Đức Quốc xã. Tuy nhiên, Schindler không chỉ là một người hùng, quá khứ của ông cũng tồn tại rất nhiều điểm tối.

Oskar Schindler. (Ảnh: Wikipedia, Public Domain)

Schindler sinh ra trong một gia đình người Đức ở Tiệp Khắc. Ông từng là một thương gia, nhưng đã rơi vào cảnh nợ nần, nghiện rượu. Năm 1936, do hoàn cảnh nợ nần, Schindler đã quyết định phản bội quê hương, trở thành một gián điệp, và gia nhập Abwehr, tổ chức tình báo của Đức Quốc xã. Schindler bị chính phủ Tiệp Khắc kết án và cầm tù trong tháng 7 năm 1938, nhưng sau Hiệp ước München, ông được phóng thích.

Schindler ra nhập đảng Chủ nghĩa xã hội Quốc gia Đức (gọi tắt là Đức Quốc xã) vào năm 1939, và tiếp tục làm việc cho Abwehr, mở đường cho cuộc xâm lược Ba Lan của Đức Quốc xã.

Là một kẻ cơ hội, Schindler đã tìm cách kiếm lợi nhuận từ cuộc tấn công Ba Lan. Ông giành được quyền sở hữu một nhà máy sản xuất đồ pháp lam (đồ đồng tráng men) ngưng hoạt động ở Kraków. Với sự giúp đỡ của nhân viên kế toán người Do Thái nói tiếng Đức tên là Itzhak Stern, Schindler đã thu thập được khoảng 1.000 công nhân Do Thái lao động cưỡng bức làm việc ở đây.

Ban đầu Schindler đã chạy theo lợi nhuận vì chi phí lao động của người Do Thái rẻ mạt, nhưng rồi ông bắt đầu bao che cho các công nhân của mình mà không quan tâm tới chi phí. Ông cũng cố gắng tuyển thêm những người Do Thái khác dù họ không có tay nghề. Trong nhà máy của ông, các công nhân được đối xử tử tế, được phép cầu nguyện, đọc kinh, và thực hiện các nghi thức Do Thái.

Schindler đã bị bắt 3 lần do bị tình nghi có các hoạt động chợ đen, và đồng lõa trong tội biển thủ, cũng như phạm luật Nuremberg bằng việc hôn một cô gái Do Thái. Tuy nhiên không một vụ bắt giữ nào được đưa ra xét xử, chủ yếu là bởi vì ông đã hối lộ các quan chức chính phủ để tránh bị điều tra thêm.

Schindler tiếp tục sử dụng gia sản của mình để hối lộ và mua sắm các đồ dự trữ ở chợ đen cho các công nhân của ông. Khi chiến tranh kết thúc, ông đã tiêu tán hầu như toàn bộ gia tài của mình.

Ngôi mộ của Oskar Schindler với dòng chữ “Righteous among the nations” (Tạm diễn nghĩa là: kẻ chính nghĩa hiếm hoi so với các quốc gia không lên tiếng). (Ảnh: Yoninah, Wikipedia, CC BY-SA 3.0)

Sau chiến tranh, Schindler gặp khó khăn trong việc kinh doanh ở Đức, di cư sang Argentina năm 1948, nơi ông bị phá sản. Kể từ đó, công việc kinh doanh của Schindler trồi sụt, và ông liên tiếp gặp thất bại cho đến khi nhận được lương hưu từ chính phủ Tây Đức.


Nhiều người cảm thấy ngạc nhiên trước hành động cứu vớt người Do Thái của Schindler, một người đã từng phản bội tổ quốc để có tiền trả nợ… Nhưng Schindler từng nói: “Tôi đã làm điều tôi có thể làm, điều tôi phải làm, điều mà lương tri tôi mách bảo. Tất cả là vậy.”

Dù có là một y tá mang trong tâm trách nhiệm cứu người, một vị quản lý khách sạn với thói quen hối lộ, một người lính được huấn luyện để tham gia những cuộc chiến tranh đầy máu và nước mắt, hay một kẻ cơ hội từng phản bội quê hương chỉ vì nợ nần chống chất, thì cuối cùng, lương tri bên trong những con người đó vẫn sống và vẫn tỏa sáng. Đó mới chính là điều kỳ diệu nhất của nhân loại…


Minh Huy


Mời xem video :

Chia sẻ Facebook